Tạo vạt trong trồng răng implant? Các hình thức lật vạt trong cấy ghép implant

Trồng răng implant có đau không? Rạch nướu trồng răng có để lại sẹo không, phương pháp nào tối ưu vừa cân bằng giữa hiệu quả và thẩm mỹ cho khách hàng?
Câu hỏi này là thắc mắc được nhiều khách hàng tại Phương Sen Dentist quan tâm trước khi trồng răng implant. Tạo vạt là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc ổn định và thẩm mỹ sau khi trồng răng implant. Trong bài viết này, Nha Khoa Phương Sen sẽ phân tích thông tin và các hình thức tạo vạt để cung cấp thêm thông tin cho khách hàng trong quá trình trồng răng implant.

1. Tạo vạt trong cấy ghép implant

Trong trồng răng implant có 2 phương pháp tạo khoảng trống để cấy ghép bao gồm tạo vạt và hướng dẫn định vị phẫu thuật. Trong đó, tạo vạt trong cấy ghép implant bao gồm 2 phương pháp là tạo vạt toàn phần và tạo vạt bán phần. Tùy thuộc tình trạng lâm sàng, bác sĩ sẽ phối hợp phương pháp tạo vạt toàn phần và tạo vạt bán phần phù hợp với tình trạng, diện tích mô nướu.
Trong tạo vạt toàn phần, bác sĩ sẽ tiến hành rạch xuyên qua vùng nướu dưới xương, trong đó mô liên kết và màng xương đều nằm trong vạt để lộ xương bên dưới. Lật vạt toàn phần tạo không gian rộng để quan sát rõ vùng xương cấy ghép, tuy nhiên lượng máu cung cấp cho cấu trúc xương bên dưới có thể bị giảm.
Mặt khác, tạo vạt bán phần được rạch trực tiếp tạo ra trong biểu mô và mô liên kết, trong khi màng xương vẫn gắn với xương, duy trì cung cấp máu cho xương bên dưới, hỗ trợ dịch chuyển khi thiết kế các vị trí không đủ điều kiện diện tích mô nướu.

2. Các hình thức lật vạt trong cấy ghép implant

2.1. Không lật vạt

Trồng răng implant không lật vạt là kỹ thuật đục lỗ trên mô mềm (phương pháp tiếp cận không lật vạt trong cấy ghép implant), thường được ứng dụng trong các cuộc phẫu thuật implant có hướng dẫn.

Phương pháp điều trị này giúp giảm thiểu chấn thương phẫu thuật từ việc rạch nướu gây ra, giúp làm giảm chấn thương phẫu thuật, lành thương nhanh hơn, đồng thời giảm thiểu tình trạng tiêu xương do dư chấn phẫu thuật. Tuy nhiên, không lật vạt gây hạn chế khả năng tiếp cận đến khu vực cấy ghép implant và thủ thuật nâng cao gờ xương.

trong-rang-implant-không-rach-nuou

Trước khi chỉ định không lật vạt trong cấy ghép implant, bác sĩ điều trị phải xem xét đến tình trạng và diện tích của mô sừng hóa. Kết quả sau khi cắt bỏ mô, phần mô còn lại phải có ít nhất 2mm của nướu sừng hóa xung quanh, đảm bảo diện tích dải nướu sừng hóa để tối ưu sức khỏe và tính ổn định xung quanh implant. Nếu mật độ nướu sừng hóa không đáp ứng yêu cầu tối thiểu thì khách hàng nên xem xét các kỹ thuật khác.

2.2. Vạt bao

Vạt bao bao gồm một đường rạch ở mào xương các đường rạch bao quanh các răng bên cạnh. Khi tăng tính di động của vạt trong quá trình cấy ghép implant, đường rạch có thể được kéo dài ra xa hơn vị trí mất răng hoặc có thể thay đổi vị trí của đường rạch mào xương. 

Trong trường hợp có đầy đủ các nướu sừng hóa, bác sĩ điều trị thường sẽ rạch một đường ở giữa mào xương, ngoài ra, vết rạch ở mào xương có thể rạch cách 1–2 mm về hướng khẩu cái /lưỡi trong những trường hợp giảm lượng nướu sừng hóa. Kết quả cho phép bác sĩ điều trị điều chỉnh diện tích mô sừng hóa trên xương, đảm bảo nướu di chuyển nhẹ nhàng, điều chỉnh sự thiếu hụt nướu và diện tích nướu sừng hóa đã có từ trước.

2.3. Vạt hình tam giác (hai mặt) và hình thang (ba cạnh)

Vạt hình tam giác và hình thang thường được chỉ định trong một số trường hợp tiêu xương (thể tích xương hàm bị suy giảm), yêu cầu phải tăng thể tích xương trong quá trình cấy ghép implant. Vạt hình tam giác và hình thang có thiết kế vạt tương tự với vạt bao, thông qua việc rạch một hoặc hai đường rạch, làm giảm căng theo chiều dọc phân kỳ về phía chóp. 

Vùng cửa sổ rạch của vạt hình tam giác và hình thang thường lớn hơn so với các vạt khác, giúp cải thiện khả năng tiếp cận và quan sát vị trí cấy ghép và vùng xương bên dưới. 

Vạt có thiết kế đáy rộng hơn. Các quy trình nâng gờ xương yêu cầu tăng tính di động của vạt để vị trí rạch không bị quá căng. Các bác sĩ lâm sàng có thể lựa chọn mở rộng bao của vạt theo đường rạch trong khe nướu ra xa hơn so với chỗ khiếm khuyết xương, hoặc cách khác, có thể sử dụng một vạt hình thang là sự kết hợp một vạt bao với hai đường rạch giảm căng dọc.

Rạch bổ sung màng xương có thể được yêu cầu để hỗ trợ cho việc nâng vạt. Nên tránh các vết rạch theo chiều dọc trong vùng thẩm mỹ vì điều này có thể dẫn đến sẹo còn sót lại có thể nhìn thấy và có thể ảnh hưởng đến kết quả thẩm mỹ cuối cùng. Trong những trường hợp này, một (hoặc hai) đường rạch giảm căng dọc có thể được đặt cách xa vùng thẩm mỹ. Ngoài ra, các vết rạch giảm căng theo chiều dọc có thể được đặt trong các thắng má, để che sẹo.

Đặc biệt, số lượng đường rạch giảm căng theo chiều dọc được kết hợp phụ thuộc vào khả năng tiếp cận, vùng cửa sổ rạch để nhìn thấy xương hoặc khiếm khuyết bên dưới, cũng như khâu đóng không căng. Đường rạch giảm căng phải được thực hiện ở góc 90 độ so với rìa nướu. Đường rạch giảm căng được thực hiện để giảm căng dọc. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, phẫu thuật hạn chế đặt vết rạch giảm căng, bao gồm:

2.4. Vạt bảo tồn gai nướu

Kỹ thuật tạo vạt bảo tồn gai nướu thường được áp dụng trong các trường hợp bảo tồn thẩm mỹ, tránh làm hỏng gai nướu. Khi thực hiện kiến vạt bảo tồn gai nướu, bác sĩ sẽ rạch một đường ở đỉnh sống hàm cách 1–2 mm tính từ khe nướu của các răng bên cạnh. 

Bên cạnh đó, hai đường rạch giảm căng theo chiều dọc được thực hiện ở mỗi đầu của đường rạch, bảo tồn toàn bộ phức hợp gai nướu và hạn chế bất kỳ sự tái tạo xương nào.

Vạt bảo tồn gai nướu thường được ứng dụng khi đã có mão và cầu răng liền kề hoặc phục hình trên implant để ngăn chặn tình trạng tụt nướu do phẫu thuật, làm lộ bờ phục hình hiện có. Nó cũng được thực hiện trong các trường hợp có kiểu hình nướu mỏng và răng hình tam giác để tránh mất gai nướu. Tuy nhiên, vì nó là một vạt nhỏ hơn, nó có thể hạn chế khả năng tiếp cận và tầm nhìn đến khu vực phẫu thuật và có thể dẫn đến nguồn cung cấp máu hạn chế. Thiết kế  này có thể được sửa đổi bằng cách thay thế hai đường rạch dọc bằng hai đường rạch bán nguyệt. Điều này dẫn đến đáy của vạt rộng hơn, tăng lượng máu cung cấp và cũng cải thiện tính di động của vạt.

2.5. Vạt cuộn

Kỹ thuật vạt cuộn phía má thường được sử dụng để điều chỉnh khiếm khuyết về hình thái mô mềm khi có đủ thể tích xương để implant cho vị trí mất răng.
Trong kỹ thuật tạo vạt cuộn, bác sĩ thiết kế vạt cuộn bằng cách rạch một đường từ trên đỉnh xương hơi lệch về hướng khẩu cái/lưỡi. Cụ thể, sau khi rạch trên đỉnh xương bằng lưỡi dao số 15, bác sĩ điều trị sẽ loại bỏ lớp biểu mô bề mặt. Tiếp đó, vạt niêm mạc có cuống đủ độ dày sẽ được lật lên tạo ra không gian để bác sĩ có thể nhìn rõ phần xương tại vị trí cắm implant, sau đó bóc tách bán phần vạt má tại vị trí cấy ghép implant. Kết quả tạo ra khoảng trống để cuộn mô mềm ở mào xương (đã bỏ đi lớp biểu mô) và phục hồi khiếm khuyết thẩm mỹ của khung hàm. Kỹ thuật cho phép tăng thể tích mô mềm mà không cần lấy mô ở vị trí khác, do đó giảm tỷ lệ tổn thương cho khách hàng.

2.6. Vạt Palacci

Vạt Palacci được chỉ định trong những trường hợp cần tái tạo gai nướu. Vạt Palacci được thiết kế như một vạt bao, đường rạch xuất phát từ trên đỉnh xương được đặt về phía khẩu cái/lưỡi. Trong đó, một vạt toàn phần được lật và phần xương bên dưới lộ ra. Sau khi đặt implant, các abutment healing được lắp vào implant (nếu đạt được độ ổn định sơ khởi mong muốn). Sau đó, một vết rạch bán phần được thực hiện bên trong vạt tạo ra một cuống. Sau đó, cuống được xoay 90 độ để lấp đầy khoảng trống giữa implant và răng kế cận, hoặc các implant liền kề.

Nhìn chung, tạo vạt là phương pháp tiền đề trong việc cấy ghép implant, ảnh hưởng đến việc xác định vị trí trong cấy ghép implant. Chính vì vậy, quý khách hàng nên lựa chọn nha khoa uy tín để tiến hành kết hợp khi cấy ghép implant để đảm bảo tính ổn định, an toàn, thẩm mỹ trên khung hàm khách hàng.